RỐI LOẠN NHÂN CÁCH HYSTÉRIE

Đăng bởi: Animê manga shido

Ngày đăng  06:41 09/09/2019

Lịch sử
Thuật ngữ Hystérie xuất hiện khá lâu,căn ngữ tiếng Hy Lạp của nó là Ustéra Còn có nghĩa là tử cung. Theo Hypocrate trong trường hợp bị ức chế tình dục tử cung bị khô đi và trong quá trình đi tìm kiếm sự ẩm ướt nó sẽ gây nên các nhiễu loạn về chức năng ở những nơi hành trình nó đi qua.
Quan niệm về căn nguyên tình dục của Hystérie được duy trì suốt 18 thế kỷ. Trước đó Syndeham, nhà Thần Kinh học nổi tiếng ở thế kỷ 17, đã lần đầu tiên mô tả rõ các đặc trưng của nhân cách Hystérie như tính dễ bị ám thị, bi kịch hóa và thiếu sót tình dục.
Chỉ vào gần cuối thế kỷ 18 Pinel mới đưa ra giả thuyết về sự nhậy cảm và dể khích động của các sợi TK, ông đã đưa rối loạn Hystérie vào trong nhóm các bệnh tâm thần và đề nghị các trị liệu tâm lý cho họ.
Tiếp đó Janet vào 1892 trong tác phẩm nổi tiếng” Trạng thái tâm lý của bệnh nhân Hystérie” đã rất chú trọng tới tính chất dễ ám thị, ông nhấn mạnh tới tính tự ám thị và sự suy yếu ý thức là nền tảng của nhân cách và các rối loạn chức năng của bệnh nhân “nhân cách của họ bị chi phôí bởi tình trạng bệnh lý trên”.
Riêng các tác giả thuộc trường phái Đức như Kraepelin, Kretschmer và Schneider lại cho rằng nhân cách và rối loạn chức năng hoàn toàn độc lập nhau.
Với Freud Hystérie trước nhất là kết quả của một xung đột tâm lý về tính dục từ lúc nhỏ và sự gợi lại một cách mơ hồ một cách vô thức, với sự  hổ trợ  của 2 cơ chế dồn nén (Refoulement) và chuyển di (Conversion), đã gây nên các rối loạn chức năng “Tác động tâm lý trong cơ chế TK cơ thể của bệnh”. Như vậy khác với 2 trường phái trên Freud không những khẳng định chính cấu trúc tâm lý đã tạo nên các rối loạn mà còn can thiệp trong suốt quá trình phát triển và kiến tạo nhân cách của bệnh nhân.

4.2       Dịch tể học – Mô tả lâm sàng
Các điều tra dịch tễ học trong dân số chung ước lượng con số là 2-3%,riêng
nhóm đối tượng có trị liệu về tâm thần tỷ lệ có thể lên 10-15%.
Tỷ lệ nữ cao hơn nam,thêm nữa là ở nam thường chẩn đoán hay bị bỏ sót. Các bệnh lý đi kèm thường thấy trên nhân cách này là rối loạn cơ thể hóa, rối loạn khí sắc và nghiện rượu.
Khi tiếp xúc bệnh nhân thường tỏ ra rất hợp tác,sẵn lòng nhận giúp đỡ.Có khuynh hướng mầu mè,phô trương,thích quyến rũ và thu hút sự chú ý của người khác,phong cách thay đổi tuỳ ngoại cảnh.Xúc cảm hời hợt, nói chuyện  hay bi kịch hóa và tính cách dễ bị ám thị.

4.3    Cơ chế tâm sinh lý bệnh
Giả thuyết về các rối loạn quan hệ sớm được giải quyết bằng những hành vi
có tính bi kịch.Ngoài ra thường thấy là mô hình gia đình với người cha nghiêm khắc và người mẹ thích quyến rũ.
Phong cách huyền tưởng muốn “nhập vai” với xúc cảm cao độ và khuynh hướng bi kịch hóa.Các cơ chế phòng vệ tâm lý được huy động như : dồn nén
(refoulement),chuyển di(conversion),cơ thể hóa(somatisation),phân ly
(dissociation),chối bỏ (déni),hướng ngoại(externalisation).
Đồng nhất hóa một cách lầm lạc (Défaut d’identification) và có một quan hệ nước đôi (relation ambivalente) với người cha hoặc mẹ khác phái.
Theo Freud,phát triển tâm lý của bệnh nhân bị khựng lại ở giai đoạn sinh dục sơ khai(stade génital précoce) vì vậy họ thường sợ tình dục mặc dù có những hành vi quyến rũ và chinh phục người khác.

4.4    Chẩn đoán theo DSM IV
Đáp ứng cảmxúc quá mức và luôn tìm cách thu hút sự chú ý,thường xuất hiện lúc bắt đầu trưởng thành trong nhiều hoàn cảnh khác nhau và có ít nhất 5 trong các biểu hiện dưới đây :
(1)    Không thoãi mái ở những nơi mình không là trung tâm sự chú ý của người khác.
(2)    Quan hệ với người khác luôn có bộc lộ sự quyến rũ phái tính quá mức hoặc
thái độ khêu gợi.
(3)    Cảm xúc được biểu lộ một cách phiến diện và nhanh chóng thay đổi.
(4)    Thường sử  dụng ngoại hình để làm người khác lưu tâm.
(5)    Nói chuyện đậm nét chủ quan và nghèo nàn về chi tiết.
(6)    Hay bi kịch hóa,cường điệu cảm xúc quá mức.
(7)    Tính dễ bị ám thị,ảnh hưỏng bởi người khác hoặc bối cảnh xung quanh.
(8)    Xem tất cả các mối quan hệ đều là thân tình một cách phi thực tế.

4.5    Chẩn đoán phân biệt

NC ranh giới: bộc lộ rõ sự thất vọng,các hành vi tự hủy và dễ có hành vi tự sát
Rối loạn cơ thể hóa :các than phiền về cơ thể rất rõ nét.
Rối loạn chuyển di : các triệu chứng chuyển di rõ nét.
Nhân cách tránh né : không có sự bi kịch hóa trong bộc lộ cảm xúc.

4.6    Tiến triển –Trị liệu
Có thể xuất hiện một số các bệnh lý như :rối loạn cơ thể hoá.rối loạn
chuyển di,rối loạn phân ly,rối loạn tình dục,trầm cảm.
Trị liệu tâm lý cá nhân theo khuynh hướng phân tâm hoặc tâm lý nâng đỡ,
Tùy theo sự vững mạnh của cái tôi(le moi).
Trong vài trường hợp có mất quân bình cảm xúc có thể cho thuốc chống lo âu.

4.7     Minh họa lâm sàng  
Người nữ đồng nghiệp
Theo lời kể của B., 28 tuổi, nhân viên văn phòng:
Tôi và C. được tuyển vào công ty gần như cùng lúc. Do cùng phòng ban nên chúng tôi làm quen nhau ngay. Lần đầu tiên gặp cô ấy ở hành lang văn phòng đầy ấn tượng:tôi nhớ hôm đó C. mặc một bộ đồ toàn mầu xám,phía trên rất kín đáo nhưng lại đi với một váy thật ngắn có dụng ý rõ ràng là trình bầy đôi chân trời cho của mình. Tuy nhiên ngược hẳn với vẽ ngoài gợi cảm trên, hôm đó C. có một cách nói chuyện hết sức chuyên môn, khô khốc, làm như  cô ấy hoàn toàn không biết đến vẻ bên ngoài rất khiêu khích của mình.

Trong buổi họp giao ban đầu tiên, cô ấy rất ít phát biểu mà chỉ lo hướng về tôi với những ánh mắt không chớp, đầy ẩn ý. Thế là sau đó tôi nhanh chóng tiếp cận cô ấy,C. nghe như uống từng lời của tôi, cười khúc khích khi tôi đùa, nhìn tôi thật nóng bỏng. Tuy nhiên tôi vẫn ngờ ngợ vì mọi chuyện có vẻ đẹp như mơ vậy, mối nghi ngờ đã được làm sáng tỏ ngay khi A.xếp của chúng tôi cùng nhập bọn trò chuyện. Anh ấy được hưởng ngay lập tức toàn bộ màn biểu diễn của C. mà trước đó tôi là khán giả duy nhất. Tuy biết vậy nhưng tôi vẫn rất bực bội đến nỗi mấy ngày sau tôi không muốn trò chuyện với cô ấy.

Một chiều nọ khi tôi đang chuẩn bị rời công ty để đi chữa răng, C. tiến tới chỗ  tôi ngồi-lúc ấy tôi đang rất gấp không thể mở lời được –thỏ thẻ rằng sao lâu quá tôi không nói chuyện gì cả. Khi tôi nói rằng đang bận lắm mai gập lại sau thì cô ấy đáp lại bằng một giọng vỡ vụn rằng tôi không còn thích cô ấy nữa. Thú thật lúc đó tôi thấy cô ấy rất xúc cảm, lệ tuôn trào, bi đát như như một đứa bé bị bỏ rơi. Khi tôi đề nghị được đưa cô ấy về, C. ôm chầm lấy tôi cám ơn như một đứa trẻ.

Cuối cùng thì chúng tôi cũng cùng ăn tối với nhau, vẫn là không khí đó: cười nói, uống lấy từng lời của tôi. Và khi tôi gợi ý rằng quan hệ hai bên có thể tiến xa hơn thì màn trình diễn cũ lại xuất hiện: với giọng âu sầu C. cho biết không hoàn toàn tự do trong lúc này, rằng đàn ông nhiều phen làm cho cô thất vọng. Với cách nói không rỏ ràng như thế nên tôi cũng không dám hỏi rằng liệu cô đang có một người đàn ông khác không. Buổi tối thế là hỏng. Trên đường về chúng tôi chỉ trao đổi bâng quơ với nhau nhưng trước khi chia tay cô ấy làm tôi sững sốt khi ghì lấy và hôn tôi tha thiết.

Không thể kể hết các thăng trầm trong câu chuyện của chúng tôi. Đại khái là có khi hàng nhiều tuần lể tôi phải khổ sở với cung cách nắng mưa của C., khi tôi chán ngán buông xuôi thì cô ấy lại quay lại mời gọi.

Lần cuối khi chúng tôi bên nhau tay trong tay, má kề má, tưởng không gì thân tình hơn, thì cô thì thầm bên tai tôi rằng cô đang cặp kè với một người đàn ông đã có gia đình, cô thuật lại với đôi mắt mơ màng, đầy si mê mô tả về một người nào đó thật tốt bụng, thật mạnh mẽ, hơi bí ẩn. Đối với tôi như vậy cũng quá đủ rồi, quyết định chấm dứt mối quan hệ đã đến ngay lúc đó.Khi chia tay tôi có nói tốt hơn cho cả hai là nên giữ quan hệ ở mức đồng nghiệp. Những ngày sau đó C. như dự đoán đã cố nài nỉ tôi rất nhiều nhưng tôi cũng nhận ra là cô vẫn tiếp tục chơi trò tình cảm với các người khác, nhất là những nhân vật mới đến Công ty.

Trong công việc C. được cả người thương lẫn kẻ ghét. Cô rất ranh ma với các khách hàng, họ cứ tưởng rằng được cô đặc biệt quan tâm. Ở các buổi giao ban cô luôn có nhiều ý kiến rất hay,nhưng ngược lại khi đứng trước một hồ sơ cần phải giải quyết một cách có hệ thống cô lại tỏ vẻ nhàm chán, thậm chí chểnh mảng, đùn đẩy cho người khác. Trong các buổi họp thường cô tỏ ra rất hăng say có vẻ như dồn cả tâm huyết vào công việc,nhưng tôi cảm thấy có gì đó hơi kịch kịch, thí dụ như việc chọn hay không một cách quảng cáo cho một loại yaourt nào đó đối với C. là cả một tấn bi kịch. Điều này làm cho những người mới vào một cảm giác rất thuyết phục khi họ còn chưa kịp biết và chán ngán cô.

Khi quan hệ giữa chúng tôi trở nên bè bạn, tôi chắc rằng C. cảm nhận rằng tôi không còn muốn cô nữa nhưng dường như C. không ngăn được ý nghĩ rằng có thể “sở hửu” tôi. Có vài lần cô nói chuyện thân tình với tôi đặc biệt về các trưởng phòng ban, có lúc cô thấy người này tuyệt vời, lý tưởng rồi nửa tháng sau lại nhận xét về họ như những người không ra gì, rỗng tuếch. Cô có vẻ như thường xuyên diễn trò.

Tới nay chúng tôi đã biết nhau được 2 năm nhưng tôi luôn có cảm giác C. không bao giờ thành thật được,ngay cả trong những lúc nói chuyện bình thường cô cũng có vẻ như  diển một vai nào đó dường như để thu hút sự quan tâm của người khác. C. không bao giờ có vẻ tự nhiên được. Hay đó chính là bản chất của cô ấy.

Đặc trưng nhân cách Hystérie
Bi kịch hóa, tạo cảm xúc và phong cách gây ấn tượng để người khác lưu tâm

  Update vào lúc 06:41 09/09/2019

327 lượt xem

3 Lời bình

Đăng lời bình

Hãy đăng nhập để đăng lời bình

Bài viết mới nhất


Develop by ITE Group